Sonntag, 15. Juli 2012

TÀI LIỆU CIA: "CÁC THẾ LỰC CHÍNH TRỊ CỦA PHẬT GIÁO ẤN QUANG"


Lời tựa: Xin giới thiệu bản dịch từ Anh ngữ của Trần Tú Uyên tập tài liệu của CIA về tập đoàn cán trọc Việt gian CS và bè lũ tay sai trá  hình Phật giáo, lũng đọạn, giả danh đội lốt Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nổi loạn đánh phá VNCH. Tập tài liệu chỉ hé mở được một phần nhỏ tội ác của lũ tội phạm CS trọc đội lốt Phật giáo này.

Nguyên bản tiếng Anh:
 http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=04109128007

http://www.virtualarchive.vietnam.ttu.edu/cgi-bin/starfetch.exe?CY3.VoSNoBXrEmSUfrZJPUwYlVDyn1rDPOzqS23QfvBNNEhdnP.Bg5XlAaUBR34UoLAUJLzfZJpKoFtLJZesBEVYK4PpXdNQ6K2p6zVJmlQKOHhqpdNGdA/04109128007.pdf


Trân trọng
Vietnam - Buddhist

From: Mai G. Pham
To: Nguyễn Trãi - Chu Văn An
Sent: Monday, April 23, 2012 5:50 PM
Subject: [ntcva6067] Tài Liệu CIA: Thế Lực Chính Trị Của Phật Giáo Ấn Quang
 
Trần Tú Uyên phiên dịch từ tài liệu của USMACV
Sở Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ
Tài Liệu Tình Báo Truyền Tin Bằng Đường Giây Nóng.
Tình trạng số: NLJ92465
Hồ sơ của thư viện MBJ số: 27
Hồ sơ lưu trữ của cơ quan MORI: 13197:13197
Ngày báo cáo: Ngày mồng 4 tháng Năm, 1967
Số truyền tin: 59488
Quốc Gia: Nam Việt Nam, Sài Gòn 4 19292
DOI
Chủ đề: Phẩm định về thế lực chính trị của nhóm Phật Giáo phản loạn trong thời điểm bầu cử hiện thời kéo dài đến hết tháng 9 năm 1967.
ACQ: Sài Gòn, Việt Nam.
Nguồn tài liệu:
1.3(a)(4) Phẩm định lực lượng Phật Giáo Cực Đoan Nổi Loạn và Phật Giáo Ôn Hòa,
ưu điểm và nhược điểm của họ, và kế hoạch cũng như chủ đích trong thời kỳ bầu cử sắp tới. Đây không phải là sự phán quyết chính thức của cơ quan hay phân bộ. Tài liệu tượng trưng cho sự nhận xét của nhân viên Sở Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ căn cứ theo dữ kiện mà họ thu thập được trong thời điểm của bản báo cáo này.
1. Tóm lược:
Hiện tình của Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn chống chính quyền Quốc Gia đang ở vị thế ít đe dọa cho sự ổn định chính trị ở MiềnNam hơn là những thời điểm từ năm 1963 trở về trước. Chính quyền Quốc Gia Việt Nam có một hệ thống tình báo rất hữu hiệu trong các hoạt động của các tổ chức Phật Giáo Nổi Loạn, và sự kiểm soát chừng mực của chính quyền cũng được tính toán cẩn thận để kềm chế tình trạng mà không đi đến sự phản ứng quá đáng, có thể đưa đến hậu qủa là có thể xảy ra tình trạng xáo động nghiêm trọng.
Thích Trí Quang, ở thời điểm này, là lãnh tụ duy nhất của phe Loạn Đảng Phật Giáo Việt Nam và cũng là kẻ duy nhất có đủ cơ động và khả năng để khích động điều hành những cuộc phiến loạn chống Chính Quyền Quốc Gia. Cuộc tranh giành quyền lực cá nhân giữa phe Phật Giáo Nổi Loạn Qúa Khích và phe ôn hoà lãnh đạo bởi Thích Tâm Châu hình như vẫn còn tiếp tục. Theo sự phỏng đoán thì Thích Trí Quang có thể nắm trong tay khoảng 180,000 (một trăm tám mươi ngàn) lá phiếu trong khu vực mà hắn ta có quyền lực mạnh nhất ở Miền Trung và Sài Gòn. Hắn ta có khả năng khích động và xúi giục người khác và đệ tử của hắn hành động theo ý của y thị. Thế nhưng, đệ tử của hắn nằm trong hệ thống Phật Giáo hình như trung thành và được rèn luyện và quy về một nhóm khoảng chừng 600 sư sãi. Thích Tâm Châu được sự ủng hộ của các Phật Tử gốc Miền Bắc di cư, mặc dù đa số sự ủng hộ này có thể là do phản ứng chống lại hành vi thiên Cộng của bọn Phật Giáo Nổi Loạn Thích Trí Quang. Thích Tâm Châu yếu ớt về khả năng tổ chức và không có nhiều cán bộ. Dù cho đa số Phật Tử chống lại chính quyền quân sự hiện thời; thế nhưng có thể là cả Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang đều sẽ không chống lại cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội sắp tới, mà họ sẽ âm thầm ủng hộ cuộc bầu cử và muốn thấy nhiều đệ tử của họ được trúng cử vào Quốc Hội... Thích Tâm Châu có thể là sẽ ủng hộ Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Thích Trí Quang có thể là sẽ công bố ứng cử viên Trần Văn Hương. Trong khi đó,một điều không thể chối cãi được rằng có Việt Cộng nằm vùng trong hàng ngũ Phật Tử trên phương diện chính trị,thế nhưng chưa có bằng chứng cụ thể là Việt Cộng thống trị Phật Giáo hay là điều khiển Phật Giáomặc dù trên thực tế thì Phật Giáo Ấn Quang luôn luôn hoạt động có lợi cho Việt Cộng. Chính Quyền Quốc Gia đã tỏ ra nắm được thế chủ động trong tình thế chính trị ở Miền Nam, và Thích Trí Quang thì luôn luôn tiếp tục quấy nhiễu Chính Quyền Quốc Gia bất cứ khi nào hắn ta có cơ hội, và có những dấu hiệu cho thấy rằng các ông sư lãnh tụ Phật Giáo không chấp thuận cho các Phật Tử tiếp tục tranh đấu ngoài vòng Pháp Luật. Vào tháng Chín và tháng Mười, rất có thể là những phe Loạn Đảng Phật Giáo Ấn Quang cực đoan và nhóm ôn hoà sẽ tràn vào các địa điểm bầu cử thay vì các chướng ngại vật.
2. Hiện tình hoạt động của Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn chống chính quyền Quốc Gia đang ở vị thế ít đe dọa cho sự ổn định chính trị ở Miền Nam hơn là những thời điểm từ năm khoảng giữa 1963 trở về trước. Bởi vì sự thất bại về những yếu điểm sách lược quan trọng của pha Phật Tử Nổi Loạn là điểm chính đưa đến sự ổn định chính trị ở Miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, khi thời hạn nhiệm kỳ của chính phủ này từ từ hết hạn và bầu cử tổng thống và quốc hội sắp đến vào mùa thu năm 1967, Phật Giáo Nổi Loạn, bảo đảm là, sẽ quan sát sự kiểm tra phiếu rất tỉ mỷ.
3. Trong những năm qua, sự liên hệ giữa chính quyền Quốc Gia và nhóm Phật Giáo Nổi Loạn đã được mô tả bằng những cường độ thay đổi của áp lực chính trị và bạo động của nhóm loạn đảng Phật Giáo lên Chính Quyền Quốc Gia và sau này Chính Quyền Quốc Gia đã phản công lại với sự tính toán kỹ càng. Sách lược phản công của Chính Quyền Quốc Gia được điều nghiên trên tất cả mọi chiến thuật chống nổi loạn từ toàn lực tấn công bao gồm việc sử dụng quân đội thẳng tay đàn áp những cuộc nổi loạn từ trọng tâm vào mùa xuân 1966, đến hình thức nhân nhượng trong vài trường hợp khi biểu tình được chính quyền cho phép. Những mưu mẹo và thủ đoạn mà Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã dùng để xử sự với vấn đề Phật Giáo nổi loạn có thể mô tả như mực độ nhạy bén về chính trị mà ông đã thu đạt được kể từ khi nắm chính quyền. Chính Quyền Quốc Gia có một hệ thống tình báo làm việc rất hiệu qủa ở bên trong các hoạt động của phe luạn đảng Thích Trí Quang, và biện pháp kềm chế tình hình để không đi đến chỗ qúa đáng để có thể kết tủa thành sự rối loạn nghiêm tro.ng.
4. Sự điều khiển các phong trào Phật Giáo Nổi Loạn như là những áp lực chính trị vẫn còn tiếp tục nằm trong bàn tay của một nhóm rất ít tu sĩ Phật Giáo trong danh sách sau đây:
1) Thích Trí Quang.
2) Thích Huyền Quang.
3) Thích Thiện Hoa.
4) Thích Pháp Trí.
5) Thích Pháp Siêu.
6) Thích Trí Thủ.
7) Thích Thanh Vân.
8) Thích Minh Châu.
9) Thích Hộ Giác.
10) Thích Đôn Hậu.
11) Thích Thiện Minh.
12) Thích Nhất Hạnh.
Ngoại trừ Thích Nhất Hạnh ở ngoại quốc, chúng hội họp và bàn thảo vào tuần lễ đầu tiên của mỗi tháng và mỗi khi có chuyện cần thiết trong nội bộ. Cho đến khi Thích Thiện Minh bị thương bởi một kẻ tấn công vô tung tích vào năm 1966, hắn ta vẫn là kẻ có ảnh hưởng lớn nhất của đám “giặc thầy chùa”được xếp vào hàng thứ nhì đứng sau Thích Trí Quang. Thích Trí Quang hoạt động trên mặt nổi và khuôn mặt của hắn rất quen thuộc với công chúng, còn Thích Thiện Minh thì hoạt động trong mặt chìm điều khiển tất cả các lực lượng phiến loạn và biểu tình gồm tất cả các hội Thanh Niên Phật Giáo và Gia Đình Phật Tử. Tình trạng sức khoẻ tệ hại của Thích Thiện Minh đã gây trở ngại cho các hoạt động của hắn ta, và đưa đến hậu quả là bị mất quyền thế và ảnh hưởng và để lại Thích Trí Quang phải gánh chịu trách nhiệm lãnh đạo các Phật Tử phiến loạn là một điều không tránh được. Với sự suy tàn của Thích Thiện Minh, không còn ai ngoài Thích Trí Quang có đủ khả năng để khích động và lãnh đạo các hoạt động chống Chính Quyền Quốc Gia hoặc là chỉ huy đám “giặc thầy chùa” một cách hiệu lực.
5) Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) là tổ chức Phật Giáo duy nhất hiện hữu từ ngày thành lập năm 1964 đã bị tổn thất vì sự chia rẽ nội bộ. Sự chia rẽ nội bộ này là hậu qủa của sự xung đột cá nhân mãnh liệt giữa Thích Trí Quang nhà sư người Miền Bắc Di Cư và cũng là Lãnh Tụ Phật Giáo Thích Tâm Châụ Vào cuối tháng Mười năm 1966, sự phân chia đã chính thức triển khai trong GHPGVNTH khi những Phật Tử theo phe ông Thích Trí Quang trong phiên họp “bỏ phiếu kín”của “Hội Đồng Lưỡng Viện lạ thường” của GHPGVNTN đã đề cử ông Thích Thiện Hoa làm Chủ Tịch Viện Phật Học thay thế ông Thích Tâm Châu, cũng kể từ giờ phút đó, Loạn Đảng Phật Giáo Việt Nam đã thiết lập trụ sở chính thức tại chùa Ấn Quang ở Sài Gòn trắng trợn phủ nhận sự thừa kế quyền Chủ Tịch Viện Phật Học của Thích Tâm Châụ Cũng trong thời gian đó, ông Thích Tâm Châu và các Phật Tử theo phe ông cũng phủ nhận tính cách hợp pháp của cuộc “bỏ phiếu kín” của phe ông Thích Trí Quang. Sự tranh giành quyền lực trong tổ chức Phật Giáo này chỉ chủ yếu giữa các Phật Tử trong giáo phái MAHAYANA. Giáo phái THERAVADA là một giáo phái chiếm một phần ba số Phật Tử Việt Nam thì chỉ đứng bên ngoài quan sát, giáo phái Phật Giáo này bao gồm hàng ngàn các Phật Tử Việt Nam gốc Cam Bốt.
6) Sự khác biệt giữa Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang không thể nào hàn gắn được trong một tương lai ngắn ngủi, thế nhưng điều đó không có liên hệ gì đến việc các Phật Tử tự do hành xử theo Đạo Phật hay chủ nghiã của họ.
Thích Trí Quang tranh đấu cho quyền thế, với mục đích chủ yếu là thao túng quyền lực thế tục và tâm linh của một quốc gia chính trị thần quyền trong tất cả hay là một phần của Việt Nam gọi là “quốc giáo”, điều này đã nẩy sinh ra trong tài liệu ông ta viết đã chỉ ra sự bất khả phân định và quan hệ tự nhiên của khu vực địa lý, những người sống trong vùng và Phật Giáo.
Thích Tâm Châu hình như là quan tâm về uy tín nhiều hơn là quyền thế. Ông phấn đấu cho các hoạt động của Phật Giáo Thống Nhất trong vùng Đông Nam Á, mà ông muốn trở thành nhà lãnh đạo cao trọng. Chứng cớ cho thấy hoài bão của Thích Tâm Châu có thể được nhận ra trong các hoạt động cố vấn Tăng Thống của Hội Tăng Gìa Thế Giới, Đại Biểu Tối Cao của Hội Ái Hữu Phật Tử và thông tín viên thường xuyên của Lãnh Tụ Phật Giáo trong nhiều Quốc Gia ở Đông Nam Á.
7. Một ít điều căn bản cần thấu triệt để thẩm định, một cách đúng đắn, mực độ “hậu thuẫn quần chúng ủng hộ” ông Thích Tâm Châu hay Thích Trí Quang.
Quyền lực chính trị của Thích Trí Quang chủ yếu là ở Miền Trung và ở vùng Sài Gòn và có thể phát hiện được qua sự kêu gọi mỵ dân của ông ta, tài năng tổ chức và sự thao túng các thành phần sinh viên Đại Học ở Sài Gòn và những nơi khác. Theo sự phỏng định từ ba nguồn tin thì con số cử tri mà có thể bị ảnh hưởng bởi Thích Trí Quang trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới là khoảng chừng 180,000 (một trăm tám mươi ngàn) người. Thêm vào đó, con số đáng kể những thành phần Trung Lập và Thân Cộng có thể theo sự lãnh đạo của Thích Trí QuangThích Trí Quang đã chứng tỏ là có khả năng khích động và xúi giục những người khác, và những “phật tử” ủng hộ ông ta đã lộ ra thái độ trung thành một cách cuồng tín và hung bạo, và điều này chứng tỏ cần phải có sự trừng phạt tương xứng, theo sự phỏng đoán rằng có khoảng chừng 600 cán bộ trung kiên thuộc loại sư sãi cuồng tínluôn sẵn sang tuân theo mệnh lệnh của hắn ta một cách tuyệt đối. Yếu điểm chính của Thích Trí Quang là thái độ bất hòa hoãn và chủ ý khát vọng quyền lực, ý định của hắn là xóa bỏ các hệ phái Phật Giáo khác, và chống đối sự phát triển của đạo Công Giáọ (Đối với Thích Trí Quang thì Phật Giáo là “tôn giáo gốc” (Quốc Giáo) của người Việt Nam, còn Công Giáo là nhập cảng từ ngoại quốc do Thực Dân mang vào.) Chủ đích “trung lập” và “chống Mỹ” của Thích Trí Quang cũng đưa đến hậu qủa là số đông các phần tử Quốc Gia Chống Cộng chán ghét và xa lánh.
8. Thích Tâm Châu được ủng hộ bởi thành phần Phật Giáo Di Cư và ông cũng được các phe nhóm Phật Tử khác ủng hộ một cách hiển nhiên, thế nhưng, đa số Phật Tử ủng hộ Thích Tâm Châu rất có thể là do phản ảnh của sự ghê tởm hành vi chính trị cực đoan quá khích trong qúa khứ của bọn phiến loạn Phật Tử hơn là sự thành khẩn và tích cực theo Thích Tâm Châu. Ông Thích Tâm Châu rất yếu kém về khả năng tổ chức và không có cán bộ nòng cốt có khả năng để để tổ chức và khích động quần chúng làm theo ý ông. Nhiều báo cáo chi biết ông Thích Tâm Châu bị mất nhiều phật tử vì họ phản đối việc ông liên kết với Chính Quyền Quốc Gia. Ông Thích Tâm Châu đã củng cố vững mạnh trong việc tranh đấu với Thích Trí Quang trong việc nắm quyền điều khiển Việt Nam Quốc Tự bởi tác động của Chính Quyền Quốc Gia đã lựa chọn đường lối rõ ràng là vô hiệu hóa Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn qua sự việc Chính Quyền Quốc Gia đã ủng hộ phe Phật Giáo ôn hoà.
9. Kể từ năm 1963, phe Phật Giáo Nổi Loạn đã kiên định và liên tục quấy nhiễu và đánh phá nền an ninh trật tự của Miền Nam Việt Nam, và hầu như họ không còn biết kính trọng cá nhân nào hay quan tâm đến vận mệnh Quốc Gia. Đa số Phật Tử hình như chống đối lại chính quyền Quân Sự hiện thời. Ngay cả phe Phật Giáo ôn hoà cũng không chấp nhận Chính Quyền Quân Sự mà không cần hạn chế điều kiện nào cả. Sự liên minh giữa Thích Tâm Châu và Chính Quyền Quân Sự chỉ hoàn toàn là do sự thuận lợi mà thôi. Dù sao đi nữa, cả hai phe theo Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang đều không chống đối cuộc bầu cử dân sự vào mùa thu này. Sự công khai tẩy chay cuộc bầu cử Hội Đồng Lập Hiến vào tháng 9 năm 1966 vừa qua đã mang đến hậu qủa là họ bị vô cùng mất mặt và không có thế đứng trong Quốc Hội, và lần này họ sẽ cố gắng sửa đổi lầm lẫn đó. Cả hai phe Phật Giáo ôn hòa và Phật Giái nổi loạn đều không công khai chấp nhận hay ủng hộ một ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tớị Thế nhưng có dấu hiệu cho thấy Thích Tâm Châu sẽ khuyến khích Phật Tử phe ông ta tham dự cuộc bầu cử và, ít ra là ngấm ngầm, ủng hộ Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ nếu ông ra tranh cử. Nhiều tin tình báo mới đây cho biết Thích Trí Quang cũng sẽ ủng hộ cuộc bầu cử toàn quốc. Trong buổi họp với các cố vấn chính trị của Thích Trí Quang ở chùa Ấn Quang vào thượng tuần tháng Tư, Thích Trí Quang đã quyết định công khai ủng hộ ông Trần Văn Hương làm ứng cử viên Tổng Thống, và ủng hộ một số ứng cử viên khác vào Lưỡng Viện Quốc Hội, mặc dù sự ủng hộ các ứng cử viên này không được công bố chính thức. Cũng từ các tin tình báo này cho biết trong buổi họp bí mật giữa ông Trần Văn Hương và người đại diện cho Thích Trí Quang và Thích Trí Quang đã điều đình với ông Trần Văn Hương để gài người của ông ta vào ghế Phó Tổng Thống trong Chính Quyền Quốc Gia. Trong buổi mật đàm này, ông Trần Văn Hương đã nhiều lần tán dương Thích Trí Quang và chỉ trích Thích Tâm Châu. Nhiều tin tình báo từ Miền Trung đã cho biết nhiều ứng cử viên là đệ tử của Thích Trí Quang.
10. Sự việc đáng nghi ngờ rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng như nhiều cơ quan khác ở Miền Nam đã bị Việt Cộng thâm nhập, mặc dùng không có bằng chứng cụ thể nào chứng minh rằng Phật Giáo bị thống trị hay điều khiển bởi Việt Cộng. Thế nhưng sự thật là thái độ của GHPGVNTN quấy phá nền an ninh trật tự Miền Nam trong thời chiến, và chứng cớ hiển nhiên là chúng tẩy chay cuộc bầu cử hiếp pháp từ tháng Bẩy cho đến tháng Chín năm 1966, thường là mọi việc đều rặp khuôn theo chính sách của Việt CộngSự thật không thể chối cãi được là các phần tử Phật Giáo Nổi Loạn, trong những hành vi chống đối Chính Quyền Quốc Gia, nhiều khi chúng đứng hẳn về phía Cộng Sản càng làm làm gia tăng sự nghi ngờ là GHPGVHTH bị Việt Cộng thâm nhập và do Việt Cộng điều khiển. Những kẻ thường kêu gọi “trung lập và phản chiến” như cố vấn chính trị của Thích Trí Quang là Thích Nhất Hạnh đã cho thêm bằng chứng mạnh mẽ để không thể chối cãi rằng GHPGVNTH được điều khiển bởi Việt Cộng. Thêm vào đó nữa là một cố vấn chính trị khác của Thích Trí Quang là Thích Thiện Hoa ở Chùa Trà Vinh, Tỉnh Ninh Bình là vùng Việt Cộng kiểm soát. Mặc dùng sống ở Sài Gòn, nhưng Thích Thiện Hoa đi về Chùa Trà Vinh mỗi tháng, và tin tình báo cho biết Thích Thiện Hoa có người chuyển tin tức và đi đi về về giữa Ninh Bình và Sài Gòn luôn luôn. Thích Thiện Hoa là người mà ai cũng biết tiếng ông ta là bạn thân của Nguyễn Hữu Thọ là Chủ Tịch của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra còn có nhiều chứng cớ từ lời khai của các cán binh Việt Cộng bị bắt cho biết rằng GHPGVNTH là cơ sở để thâm nhập cán bộ vào hoạt động ở Miền Nam.
11. Miền Trung Việt Nam, hay nói rõ hơn là Huế, là trung tâm hoạt động chính trị của GHPGVNTH từ sau giữa năm 1963, và ngay cả đến giờ, mực độ và bản chất của của các hoạt động của Phật Giáo trong vùng này là biểu hiệu cho mực độ chống chính quyền Quốc Gia. Tuy rằng thỉnh thoảng ở Huế và những nơi khác vẫn còn những tin tức tình báo cho biết là có những mưu đồ chính trị của Phật Giáo, tình trạng hiện thời cho thấy rằng Chính Quyền Quốc Gia đang nắm giữ được tình thế ở Huế và những nơi khác. Lẽ dĩ nhiên là Thích Trí Quang vẫn luôn luôn là cái gai nhọn chống đối Chính Quyền Quốc Gia, và bất cứ khi nào có cơ hội là hắn sẽ không ngần ngại làm xấu hổ Chính Quyền Quốc Gia. Thế nhưng cũng có những lãnh tụ Phật Giáo khác, dù là đang hoạt động chính trị hiện thời hay trong qúa khứ, đã bày tỏ thái độ là không nên đấu tranh nổi loạn ngoài vòng pháp luật. Ngày bầu cử gần kề, nhưng không có dấu hiệu hòa giải giữa hai phe Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang. Có thể là Chính Quyền Quốc Gia sẽ tiếp tục ổn định được tình thế, và sẽ có nhiều Phật Tử tham dự vào thể chế dân chủ và cũng sẽ có nhiều Phật Tử tham dự vào Quốc Hội để giải quyết vấn đề của họ. Vào thời gian bầu cử tháng 9 và tháng 10 năm 1967, hy vọng là cả hai phe Phật Giáo sẽ tràn vào phòng phiếu để bầu cử chứ không phải để quấy nhiễu Chính Quyền.
12. Bản báo cáo này gồm tin tức phối hợp với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
13. Tin tình báo State USMACV (Thống Tướng Westmoreland, Chỉ Huy Trưởng, J-2) Cinpac (Đô Đốc Sharp và Polad).
Hết

Mittwoch, 4. Juli 2012

TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÀY 26.04.1958 VỀ THẮC MẮC TRONG VẤN ĐỀ TÁI THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

- Nationalflagge der Republik Vietnam -
Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa
 
LT: Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hội từ nguyên bản tiếng Đức: “Erklärungder Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage derWiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.
 






 

Sau đây là một trong những địa chỉ lưu giữ của nguyên bản bằng tiếng Đức (dưới dạng ảnh chụp): Tại trung tâm lưu trữ thư khố quốc gia thành phố Stuttgart, tiểu bang Baden- Würtemberg, CHLB Đức.
Mã số:  J 152 D Vietnam Nr.1
Để có thể mượn tài liệu lưu trữ phải đăng ký làm thẻ bạn đọc.
Chúng tôi sẽ bổ khuyết nguyên bản tiếng Đức dưới dạng chữ viết trong thời gian tới.




Theo nguồn Nhà báo Việt Thường: nhabaovietthuong.blogspot.com
Trân trọng
Vietnam - Buddhist

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước
Nguyễn Hội 
Kính thưa Quí Vị,
 
Từ hai năm qua, vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tôi đều đóng góp một bài viết về nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Với hai bài “Thời nào Dân Việt sướng nhất” chúng ta đã cùng so sánh đời sống đại đa số dân chúng trong ba thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng hoà và “XHCN”. Kết quả cho thấy, mặc dù dưới thời Đê Nhất Cộng hoà số tiền viện trợ ngoại quốc vào Việt Nam thấp nhất, nhưng tiền lương người dân lao động, là thành phần chiếm đa số trong xã hội Việt Nam, cao trội hơn một cách rõ ràng với Đệ Nhị Cộng hoà và đặc biệt là với thời “XHCN”, mặc dù khoảng cách đã gần 50 năm.
 
Nhân tìm được trong thư viện một trường Đại học Đức “Bản Tuyên Bố của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.04.1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước” bằng tiếng Đức, tôi “ngấu nghiến” đọc và nhận thấy Bản Tuyên Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới chế độ Cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng của chế độ Cộng sản và lý do nào khiến người Cộng sản miền Bắc đã chia đôi  đất nước và sau đó đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nườc với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được ký kết.
 
Một điều đáng chú ý là năm 1958 Việt Nam Cộng Hoà chưa có Đại sứ, mới chỉ có Sứ Thần tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng đã cho dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ  ra tiếng Đức và cho phổ biến đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi Việt Nam Cộng Hòa có cơ sở ngoại giao.
 
Do tầm quan trọng của Bản Tuyên bố, tôi dịch bản Tuyên bố trên ra tiếng Việt để mọi người chúng ta cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một thời có những người lãnh đạo đất nước không những chỉ thực sự vì nước vì dân mà còn rất khôn ngoan. Với đường lối chính trị và phương thức đấu tranh của Chính phủ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, chắc chắn miền Nam đã không rơi vào tay người cộng sản mà ngược lại có lẽ cả nước Việt Nam ngày nay đã được thống nhất theo mô hình của Đức và người dân Việt không phải lam lũ làm tôi mọi cho giai cấp thống trị mại bản đỏ, người con gái Việt không phải vong thân cho ngoại bang dày vò thể xác để mong được sống qua ngày, mà chúng ta đã là những con người tự tin, hiên ngang như các dân tộc Nhật Bản, Đại hàn, Đài Loan, Singapore vv….
 
Công việc dịch ra tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả hoàn toàn hết được ý tưởng của bản văn tiếng Việt. Xin Quí Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ xót.
 
Kính mến
Nguyễn Hội



Vietnamese refugees left the newly created communist North Vietnam during Operation Passage to Freedom (October 1954).


 
Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước.
Trong bức thư đề ngày 7 tháng ba năm1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền – bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh – Nhà chức trách Hà Nội  đưa đề nghị „thiết lập quan hệ bình thường“, đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.
Mặc dù đồng bào chúng tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của họ.
Vấn đề thống nhất đất nước và cuộc bầu cử chung
Xin nhớ rằng, Chính phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Phái đoàn Cộng sản đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn  miền Nam. Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với 11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.
Nhờ vào chế độ công an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế, nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.
Từ ý tưởng này người cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc gia này dân số trong vùng họ kiểm soát ít hơn so với các khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện ý đồ đen tối của mình.
Thái độ mâu thuẫn của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và  không thành thật.
Mặc dù nhà chức trách Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ.  Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Theo quy định trong Hiến pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không có sự tranh luận, trong  một phiên họp chỉ kéo dài có một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản Việt Nam do đó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ. Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận cái chế độ này.
Chính phủ chúng tôi đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng 10 năm 1955́, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ  chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp này đã được công bố sau đó.
Những tổ chức dân chủ  và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.
Do đó, rất kỳ lạ khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước, không dám tiến hành bầu cử  trong vùng tạm kiểm soát của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.

Vấn đề về giao thông đi lại giữa liên khu vực tự do 

Nhà chức trách Hà Nội đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại  Ba-Làng và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố gắng đi đến khu vực tự do.
Họ cũng đã rút ngắn thời gian cho  tự do giao thông liên vùng và tự do lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm 1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc thuyền cho những người muốn về miền Nam.
Bất chấp mọi nỗ lực để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù dập bằng bạo lực và  cho dù thời hạn được di tản rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình, ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.
Hiện nay có 81 123 người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu cầu này.
Ngoài ra, còn có một số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi hỏi cho anh em, chồng con họ,  những người đã bị cộng sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196, đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này,  còn có rất nhiều trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu trên, nhà chức trách Hà  Nội phải gánh trách nhiệm về tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là „tự do đi lại“ và „khôi phục lại mối quan hệ bình thường“.
Vấn đề cắt giảm lực lượng quân sự:
Từ 3 năm qua nhà chức trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền của họ.
Họ đã không dừng lại mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang bị vũ khí  kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã ký kết.
Cần quan tâm đến một giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày 9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève, chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân sự từ 7 lên 20 sư đoàn.
Ngoại trưởng Pháp tháng 3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới 200.000 người.
Họ cũng đã nhập cảng vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến  về việc nhập cảng vũ khí vào Việt Nam.
Mâu thuẫn với thực tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều tra.
Họ không có lý do duy trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức trách BắcViệt áp đặt mức thuế cao và hệ thống „đấu tố“, với hệ thống này họ đã ép buộc những người vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình đã „dấu vàng của nhân dân“. Những người này  thậm chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới này.
Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình kể từ hiệp định Genève. Để bảo đảm lực lượng lao động cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn phá  bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ 242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ xung thay thế 180.000 binh lính của „Đội quân Viễn chinh“ Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.
Nhân đây cũng xin nhắc lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại quốc trên lãnh thổ của mình.
Vấn đề trao đổi thương mại
Trong thư đề ngày 7 Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng sản không  nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên lợi ích của  đảng. Đồng thời họ phải để cho dân chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ  bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm đoạt từ trước đến giờ. 

Vấn đề trao đổi thư từ và bưu thiếp
Mặc dù cộng sản không đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7 tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín. Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được với nhau.
Sự thật được mô tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam, họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.
Mâu thuẫn giữa tuyên truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã rõ ràng. Từ  nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi, họ hãy  thực hiện một số hành động cụ thể như sau:
1. Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ. 
2. Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo. 

3. Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là “Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp. 

4. Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay. 

5. Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp. 

6. Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam;  họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.
Nếu khảo sát các sự kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm 58 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Thực tế hoàn toàn ngược lại với những cáo buộc của cộng sản:  mối quan hệ Việt-Mỹ  hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa bình và tự do.
Mối quan hệ giữa nhà chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc, thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế. Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh vực tư tưởng: trong các nghị định và các quy định của họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc phải học các hệ tư tưởng Cộng sản và sống theo đường lối chính trị của Nga và Trung Quốc.
Ở miền Nam, không ai bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.
Ở miền Bắc, nhà chức trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.
Thái độ hèn hạ của nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.
Hệ tư tưởng cộng sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt lên người dân miền Bắc.
"Họ không nên nhắm mắt và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng: Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân thành."
 
Nguyễn Hội 

sưu tầm và dịch từ văn bản tiếng Đức “Erklärung der Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958. 

[1] bản tiếng Đức ghi là dẫy núi An Nam 
[2] nguyên văn tiếng Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp“